Đó là nhà giáo quần chúng. #, gan góc cần lao, cựu thiếu niên du kích Đình Bảng Nguyễn Đức Thìn – người tự nhận là “đối nhân khác thời của Hàn Mạc Tử”.

Đầu đông nghe chuyện "đối nhân khác thời của Hàn Mạc Tử"

cô giáo toán: https://giasuviet.net.vn/gia-su-mon/gia-su-mon-toan/

Sinh ra và lớn lên trên quê hương cách mệnh anh hào, quê hương của tám vị vua nhà Lý, vương triều khai sáng đế kinh Thăng Long với bao dấu ấn huy hoàng trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Đức Thìn ngay từ nhỏ đã sớm giác ngộ xuất sắc cách mạng.

Năm 11 tuổi ông tham gia đội thiếu niên du kích Đình Bảng, trở nên một chiến sỹ du kích nhỏ, cùng với các đồng tổ lập nhiều chiến công hiển hách và được Bác Hồ khen gợi, biểu dương.

Khi quê nhà đã tạm bợ yên tiếng súng, Nguyễn Đức Thìn trở về với niềm ham mê bục giảng, với con chữ và sự nhiệt huyết cống hiến cho ngành giáo dục.

Ông Nguyễn Đức Thìn với đôi tay khòng khèo, đầy đủ đã cụt hết các ngón nhưng ông vẫn làm cho thơ, viết sách

Năm 1961 thầy Thìn được nhận về dạy ở trường cấp II Tam Sơn và kiêm đảm đang tổ thiếu nhi của trường.

Từ đây người thầy cô giáo mô tả sự sáng tạo, niềm mê say không giới hạn nghỉ, ông luôn đưa ra những sáng kiến, khởi động các phong trào như “Làm theo gương sáng trên báo Tiền phong”, “Thắp sáng ngọn đèn Ngô Gia Tự”…các phong trào này rất được gần như giáo viên và học trò trong trường cũng như nhiều trường khác hưởng ứng thi đua.

đặc trưng là sáng kiến “Nghìn việc tốt” của gia sư Thìn lên đường từ trường cấp 2 Tam Sơn đã lan rộng khắp cả nước, với các hoạt động như “ Đền ơn đáp nghĩa, “giữ gìn vệ sinh”, “Áo lụa tặng bà”, “góp thấp lau súng”…từ các phong trào này mà nơi nơi thiếu nhi thi đua làm cho nhiều việc tốt, và trở nên những “Dũng sỹ nghìn việc tốt”.

Hoạt động này của thiếu nhi Việt Nam đã được nhiều công ty thiếu nhi các nước quan tâm và anh giáo làng đã được mời đi nói chuyện, nhân rộng phong trào “Nghìn việc tốt” của thiếu nhi Việt Nam ở U-lan-ba-to (Mông Cổ), ở Béclin (Đức), ở Lào…và từ đây cái tên “Sứ nhái nghìn việc tốt” đã phát triển thành cái tên trìu mến mà anh chị em dành tặng cho thầy giáo Thìn suốt 50 năm qua, đề cập từ khi phong trào ra đời.

Người chiến sỹ của thế cuộc

cuộc thế nhiều nỗi éo le, khi bầu máu nóng còn đang rực lửa, niềm đam mê với bục giảng còn nguyên lành thì cũng là khi ông phát hiện ra mình bị bệnh phong năm 1979, căn bệnh mà cõi tục vẫn luôn ghê sợ, xa lánh.

Có hẫng hụt đấy, có thoáng buồn đấy nhưng ông vẫn dứt lòng chia tay bục giảng để hành lí vào trại phong Quỳnh Lập ( Nghệ An) điều trị.

Luôn mang trong mình một ái tình đời cháy bỏng, một niềm tin sắt son với cuộc sống, ông ý kiến “Bệnh về thân xác, chớ bệnh về tinh thần”.

Tròn 4 năm điều trị ở trại phong Quỳnh Lập ông không cho mình ngơi nghỉ một ngày nào, với hành trang mang theo là những tập vở, cây bút, chiếc máy ảnh, những cuộn phim…ông đã viết những bài thơ đầy nghị lực lấy từ cảm hứng cuộc sống, thơ để quên những cơn đau trên da giết, thơ để động viên anh em bệnh nhân anh dũng chiến đấu với bệnh tật, ông vẫn nhủ: “Mất cảm giác chỉ trên da giết mổ, Cảm hứng cuộc đời sâu mãi trong tim”.

Những bài thơ mà ông viết trong suốt 1.461 ngày ở trại phong Quỳnh Lập mới đây đã được ông tập trung in thành tập thơ “Bình minh đến sớm” xuất bản đầu năm 2012. Một tập thơ mộc mạc, tràn đầy tư tưởng lạc quan, qua thơ ông muốn xóa đi cái trẻ ranh giới quá lớn của bệnh phong, cái sự kỳ thị của thế gian đối với những con người số đen.

“ Ở Quỳnh Lập thế cục không chấm hết

Chỉ có dấu phẩy để sang trang.

dừng chân nghỉ chút thế thôi

Chứ đâu bệnh tật cuộc thế bỏ đi…”

Cũng trong thời gian điều trị ở trại phong Quỳnh Lập, nhiều lần chứng kiến cảnh những đứa trẻ cùng theo bố mẹ vào đây, chúng chơi thơ thẩn ngoài biển, bắt ngao bắt ốc qua ngày mà không hề biết đọc, biết viết, thấy vậy trái tim giáo viên Thìn đau lắm, rồi ông nỗ lực phải mở nhà trường tại đây.

Ông dạn dĩ đưa ra yêu cầu mở nhà trường cho con các bệnh nhân đến giám đốc trại phong và tức thì bắt buộc này được hưởng ứng ngay.

Với khả năng sư phạm sẵn có ông Thìn được giao phận sự làm cho hiệu trưởng trường Lê Văn Tám, với nghĩa vụ cao cả là đưa con chữ về với những em nhỏ bất hạnh nơi đây…

Sau tròn 4 năm điều trị, 1983 ông rời trại phong Quỳnh Lập, nơi gắn bó với bao kỷ niệm, nơi in dấu những tháng ngày ông tranh đấu với những cơn đau bệnh tật, và để rồi ngày trở lại quê hương dù di chứng để lại là đôi bàn tay co quắp nhưng đổi lại ông vui vì mình vẫn có ích, ông đã trao đi và nhận được nhiều yêu thương hơn.

Về quê nhà ông vẫn tiếp diễn cống hiến cho sự nghiệp giáo dục. Đầy tâm huyết và sáng tạo không ngừng, liên tục trong các năm sau đó ông nhận được nhiều bằng lao động sáng tạo do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trao tặng, những sáng kiến này của ông luôn có tính thực tiễn cao và được nhân rộng trong ngành giáo dục.

Truyền nhiệt cho cuộc sống

Khi đã về nghỉ hưu ông vẫn chưa cho phép mình nghỉ ngơi mà tuồng như con người ấy còn gượng nhẹ hơn, “tham việc lắm”.

tình ái quê hương bắt nguồn từ truyền thống lịch sử quê nhà, sẵn có nền tảng tri thức sử địa phương, ông hăng hái tìm biết nhiều hơn về lịch sử, cùng với các ban ngành, đoàn thể địa phương trùng tu, phục dựng quần thể khu di tích Đền Đô – nơi thờ 8 vị vua nhà Lý, ông còn viết sách báo về Đền Đô với một bút danh đặc biệt “ Lý Hiếu Nghĩa”, có nghĩa là người con của quê hương nhà Lý, hiếu nghĩa với quê hương và nhân dân.

hiện nay ông khiến trong Ban điều hành di tích Đền Đô, ông cũng là trưởng ban tuyên truyền ở đền Đô, một chỉ dẫn viên du lịch kinh nghiệm với chất giọng thanh thanh sâu lắng, khôn xiết truyền cảm, sẽ không một khách du lịch nào không bị cuốn vào giọng nhắc, cũng như những câu chuyện, vần thơ ông đưa đến.

Chuyện Đền Đô, chuyện nhắc sông núi nhà

Những tiếng đời nhớ thương vang xa

Nghe lịch sử thêm tin yêu cuộc sống…

Ngồi nghe liên hồi mà chúng tôi như bị cuốn vào từng câu chuyện, từng hồi tưởng mà ông nói lại. Chúng tôi tuồng như đã hiểu được sức mạnh nào làm con người nhỏ bé này lại vượt qua được những khó khăn, thử thách lớn lao của thế cuộc và còn khiến cho được những điều phi thường đến vậy.

Bởi một tâm hồn sống cao đẹp, ái tình đời, yêu người, lòng máu nóng, hết lòng với công tác đã đưa ông đến với những thành công mà người nào ai cũng phải nể phục.

Ông Thìn kể chuyện lịch sử Đền Đô, truyền thống thiếu niên với các học trò trường THCS Xuân Hương – Bắc Giang.

Với đôi tay khòng khèo, toàn bộ đã cụt hết các ngón nhưng ông vẫn làm cho thơ, viết sách, chụp ảnh…Xưa bao vần thơ, trang viết ông đánh trên máy chữ, giờ chiếc máy chữ cũ kỹ ông đem tặng lại cho viện giữ giàng Bắc Ninh.

Rồi ở cái tuổi thất thập ông lại hỳ hục học đứa cháu nội bí quyết tiêu dùng máy tính, để từ đây những tập sách, những trang nhật ký bằng thư lại ra đời.

Nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long – Thủ Đô Hà Nội ông viết sách thơ “ Tiếng vọng cội nguồn”, bao gồm cả ảnh, nhiều bức ảnh trong khoảng khắc ông đã bắt chụp được như là tạo hóa, cũng là sự hợp thiêng của trời đất như bức “Hoàng Long vân giáng”- rồng vàng hiện trên bầu trời Đền Đô, “ Bát đế hiển linh”- tám đám mây cùng hiện lên trong ngày giỗ vua Lý Anh Tông…Ông vinh dự là một trong 1000 bất khuất điển hình toàn quốc được mời dự Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Thành Phố Hà Nội.

Trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, buồn vui, tủi khổ ông đã quyết định cho có mặt trên thị trường cuốn tự truyện “ Chuyện cuộc đời” dài 400 trang với những tâm tình tình thật, mộc mạc của một ông giáo làng nhiệt huyết, sống hết mình cho cuộc thế.

======>>>> Xem thêm:

http://vaynganhang.edu.vn/gia-su-lop-6-tai-gia-su-ha-noi-uy-tin-chat-luong-va-gia-re.html

Nguồn: Tổng hợp trên mạng

Article By :